Kinh tế tư nhân (KTTN), với tư cách là một thành phần kinh tế, đã được nâng lên một tầm mới trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng. Đó là kết quả quan trọng của cả một quá trình đổi mới và phát triển nhận thức của Đảng về thành phần kinh tế này.
Trong
Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI (15/7/1988) và Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 6 khóa VI, Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế tư nhân được
phát triển không hạn chế địa bàn, quy mô, ngành nghề mà pháp luật không
cấm.
Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3/2002) tiếp tục xác định:
Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc
dân, phát triển Kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát
triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan trọng thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp
hoá, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế
quốc tế.
Tại
Đại hội X (4/2006) của Đảng, KTTN chính thức được xác nhận là một thành
phần kinh tế trên cơ sở hợp nhất hai thành phần kinh tế: cá thể, tiểu
chủ và tư bản tư nhân và được xác định rõ: “Kinh tế tư nhân có vai trò
quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”(1).
Đại
hội đã thông qua một quyết định rất quan trọng là cho phép đảng viên
được làm KTTN. Vai trò của KTTN tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI
(1/2011) với luận điểm: “Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của
nền kinh tế”(2).
Sự
phát triển mới về nhận thức của Đảng đối với KTTN tại Đại hội XII là,
chính thức xác nhận: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo
thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh
vực kinh tế, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế”(3).
Đây là một trong những điểm mới nhất của Văn kiện Đại hội XII. Điều đó
thể hiện sự tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế của Đảng để phù hợp với thực
tiễn phát triển của nền kinh tế sau 30 năm đổi mới.
Sự
tăng trưởng ngày một mạnh mẽ của KTTN trong nền kinh tế nước ta được
thể hiện rất rõ nét. Từ chỗ chỉ tồn tại “thoi thóp”, “cầm chừng” trong
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, luôn luôn lo ngại về nguy cơ bị “cải
tạo”, bị phân biệt đối xử không chỉ trong ý thức xã hội mà còn cả trong
cơ chế, chính sách nhà nước, KTTN đã vươn lên mạnh mẽ trong thời kỳ đổi
mới, đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho
xã hội và phát huy những tiềm năng, lợi thế sẵn có ở mỗi địa phương cũng
như trong cả nước.
Sản
phẩm của KTTN đã vươn tới các thị trường khó tính, đòi hỏi tiêu chuẩn
cao về chất lượng, mẫu mã, an toàn trong tiêu dùng, cạnh tranh và trụ
vững được ở những thị trường đó trong nhiều năm qua.
Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2015, cả
nước có hơn 500 nghìn doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động, đóng góp 30%
ngân sách, 40% GDP. Tỷ trọng đóng góp vốn đầu tư của khu vực KTTN tăng
mạnh, chiếm hơn 2/3 tổng vốn đầu tư xã hội.
Khu
vực kinh tế này cũng đã giải quyết cho 4,72 triệu lao động có việc làm
thường xuyên, chiếm 57,1% tổng số việc làm của khu vực doanh nghiệp,
bình quân mỗi năm tăng thêm 8,7% lao động. Sự phổ biến các thương hiệu
sản phẩm của KTTN đã thể hiện rõ sự thừa nhận của xã hội đối với thành
phần kinh tế này(4).
Những
thành tựu đó còn được phản ánh khá đầy đủ, toàn diện trong thực tiễn
thị trường trong nước và nước ngoài. Được xác định “là động lực quan
trọng của nền kinh tế” trong Văn kiện Đại hội của Đảng có nghĩa là để
thực hiện điều đó cần phải có những thay đổi rõ rệt về nhận thức, về thể
chế kinh tế để giải phóng và phát huy động lực đó.
Hiện
thực hóa Văn kiện Đại hội Đảng, các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước đòi hỏi phải có sự đổi mới triệt để về nhiều mặt. Trước hết
phải đổi mới hơn nữa về nhận thức của toàn xã hội đối với KTTN. Sẽ là
không thực tế nếu cho rằng đây là vấn đề đã được giải quyết.
Trên
thực tế sau 30 năm đổi mới, về mặt nhận thức của xã hội, vẫn còn có
tình trạng hỏi: “Bạn đang công tác ở đâu?” phổ biến hơn so với câu: “Bạn
đang làm ở doanh nghiệp nào?”. Điều này cho thấy ý thức xã hội chưa
theo kịp tồn tại xã hội - một rào cản mà phải mất thời gian lâu hơn nữa
mới vượt qua được.
Trong
xã hội ta cũng vẫn còn một bộ phận dân cư và cả trong đội ngũ công
chức, viên chức nhà nước có nhận thức không đúng là đồng nhất KTTN với
tư bản tư nhân. Từ đó sinh ra mặc cảm, định kiến, không thấy hết được
mặt tích cực của KTTN trong nền kinh tế thị trường.
Nguyên
nhân chính là do không phân biệt được sự khác nhau về lượng giữa cá
thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân mà chỉ thiên về sự giống nhau về chất
(tư hữu). Đồng nhất KTTN với tư bản tư nhân dễ đi đến phiến diện thậm
chí cực đoan trong đánh giá về KTTN.
Bài học từ V.I.Lênin khi ông đánh giá về tính hai mặt của tư bản độc quyền(7) cho
thấy ngay cả với tư bản tư nhân cỡ lớn cũng cần phải được nhận thức cho
rõ về vai trò tích cực của nó trong nền kinh tế thị trường nói chung và
kinh tế thị trường định hướng XHCN nói riêng.
Bởi
vậy, Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “Khuyến khích hình thành các tập đoàn
kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế
nhà nước”(8).
Chỉ
khi xác định rõ tính hai mặt của KTTN trên cơ sở đó xây dựng cơ chế,
chính sách phù hợp với đối tượng rất phong phú về hình thức và nhiều cấp
độ về tiềm lực này mới có thể phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế này.
Đồng thời, mọi cơ chế, chính sách đối với KTTN cũng cần được cụ thể hơn
nữa theo hướng có sự phân biệt về “lượng”, không thể chỉ có một cơ chế
chung cho tất cả mọi chủ thể thuộc thành phần KTTN vì nó sẽ là không phù
hợp và do đó sẽ không thể có tính khả thi.
Khi xác định “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng”
của nền kinh tế chính là nhằm đến vai trò tích cực của thành phần kinh
tế này. Nghĩa là đã nhận thấy rõ trong KTTN còn rất nhiều tiềm năng chưa
được giải phóng, nhiều nguồn lực chưa được huy động và trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, KTTN chưa hoạt động tương xứng
với khả năng và nguồn lực của nó, chưa có địa vị phù hợp với đóng góp
của chính nó.
Biểu
hiện rõ nhất là: Hàng trăm tấn vàng thuộc sở hữu tư nhân đang trong
trạng thái bất động; Một bộ phận đáng kể lực lượng lao động có học vấn
đang ở độ tuổi sung sức nhất không có hoặc thiếu việc làm; Quy mô các
doanh nghiệp đa phần rất nhỏ không thích ứng với độ mở của nền kinh tế;
Công nghệ lạc hậu; Nhiều cơ hội kinh doanh từ nhu cầu của thị trường
trong nước rơi vào tay các doanh nghiệp nước ngoài...
Để
phát huy vai trò của KTTN với tư cách là một động lực phát triển của
nền kinh tế nước ta thì cần phải ưu tiên cao hơn nữa nhiệm vụ hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chỉ như những gì đang vận
hành thôi thì chắc chắn là không đủ.
Mặc
dù đã qua rồi cái thời của tư duy cho rằng: “quan hệ sản xuất tiên tiến
có thể “mở đường” cho lực lượng sản xuất phát triển nhưng một khi quan
hệ sản xuất dưới hình thức thể chế trở thành yếu tố kìm hãm thì rõ ràng
là phải dỡ bỏ những sự kìm hãm đó mới có thể “kiến tạo” được cơ hội cho
sự phát triển. Bởi vì, còn rất nhiều rào cản cần phải loại bỏ càng sớm
càng tốt.
Chừng
nào còn có sự thiếu minh bạch về thay đổi cơ chế, chính sách, chừng đó
còn có những doanh nghiệp bị đổ vỡ “oan”, chừng nào còn tồn tại sự chi
phối của “lợi ích nhóm”, chừng đó đa số các doanh nghiệp tư nhân còn bị
phân biệt đối xử nếu không chấp nhận sự chi phối của “nhóm” đó, chừng
nào độc quyền nhà nước trao cho các doanh nghiệp nhà nước bị lạm dụng để
biến thành độc quyền doanh nghiệp thì chừng đó các chủ thể thuộc kinh
tế tư nhân còn gặp khó khăn và phải mất thêm nhiều chi phí khi tiếp cận
các hàng hóa, dịch vụ công và các nguồn lực, các cơ hội khác,...
Việc
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được xác định
là một trong ba giải pháp đột phá ngay từ Đại hội XI, song cho tới nay
vẫn còn rất chậm do gặp phải những lực cản từ sự bất cập về năng lực của
bộ máy quản lý nhà nước.
Hàng
nghìn “giấy phép con” tồn tại cho tới nay dù đã hết hiệu lực từ
1/7/2016 vẫn chưa được xóa bỏ. Một số đạo luật và văn bản dưới luật
trong quá trình soạn thảo và thông qua hầu như chỉ ưu tiên cho lợi ích
của chủ thể soạn thảo luật mà ít hoặc không chú ý tới ý kiến phản hồi và
lợi ích chính đáng của các đối tượng có liên quan.
Hiện
tại, vẫn còn rất ít những đạo luật có thể thực thi mà không cần hoặc
chỉ cần rất ít các nghị định, thông tư, hướng dẫn của các cơ quan quản
lý nhà nước. Tính chất chung chung của các đạo luật và sự thiếu chặt
chẽ, đồng bộ của các văn bản dưới luật là mảnh đất màu mỡ nảy sinh các
loại “cỏ dại” níu chân, ngăn cản KTTN vươn lên tương xứng với tiềm năng
của mình.
Để
KTTN trở thành động lực thực sự của nền kinh tế thì thể chế kinh tế
phải đạt đến trình độ: Mọi chủ thể kinh tế đều được “làm tất cả những gì
luật pháp không cấm”. Khi và chỉ khi đạt đến điều đó mới có thể tạo lập
được sự bình đẳng thực tế giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế trước mọi cơ hội và mọi quy định, chế tài của các cơ quan quản
lý nhà nước các cấp, như tinh thần Nghị quyết trung ương 6 khóa VI của
Đảng đã nêu.
Là
bộ phận sử dụng một số lượng lao động đông đảo nhất trong nền kinh tế
quốc dân từ khi đổi mới đến nay, nhưng hầu hết các chủ thể KTTN luôn
phải chịu thêm những chi phí không đáng có trong đào tạo lao động.
Thị
trường sức lao động ở nước ta dù đã được hình thành từ lâu song vẫn
không đáp ứng được yêu cầu về cơ cấu, chất lượng lao động,... là những
nhân tố cơ bản tạo nên năng suất lao động. Nhiều cơ sở đào tạo nguồn
nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân đang hoạt động chỉ vì chính nó
nhiều hơn là vì nhu cầu của thị trường sức lao động. Chính điều này mới
là thực trạng cần phải có giải pháp cấp bách.
Doanh
nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường muốn hoạt động tốt phải có sẵn
một thị trường cung ứng sức lao động ở mức cao hơn so với nhu cầu và
luôn trong trạng thái sẵn sàng để sử dụng. Đối với doanh nghiệp tư nhân
trong nước đa phần là nhỏ, ít vốn thì sự bất cập của thị trường sức lao
động lại càng tạo nên những khó khăn mà để khắc phục nó là không dễ
dàng.
Cuối
cùng là về vai trò của Nhà nước đối với phát triển KTTN. Một nhà nước
quản lý tốt có thể đạt đến mức chống thất thu thuế và trừng trị các hành
vi vi phạm luật của công dân và doanh nghiệp. Nhưng như vậy mới chỉ phù
hợp với điều kiện bình thường chứ không phù hợp với nền kinh tế thị
trường đang cần gia tăng tốc độ phát triển.
Nhà
nước “kiến tạo” các cơ hội phát triển là mô hình ưu việt hơn. Kiểu nhà
nước như vậy mới có thể tạo mọi điều kiện để các loại hình doanh nghiệp
phát huy tốt nhất tiềm năng của nó.
Tạo
mọi cơ hội để các doanh nghiệp có thể khai thác và có một môi trường
bình đẳng, công khai và minh bạch đối với tất cả mọi doanh nghiệp. Xét
cho cùng, đó cũng chính là thực hiện tối ưu nhất vai trò kinh tế của Nhà
nước.
Về
chức năng quản lý cũng cần có sự đổi mới hơn nữa, cho tới nay thực tiễn
thế giới đã chứng minh rằng, không có phương thức nào tốt hơn trong xử
lý vấn đề về mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường bằng phương thức: “Thị trường ở khắp mọi nơi, nhà nước ở những nơi cần thiết”. Với một nhà nước như thế, chắc chắn sẽ thúc đẩy mạnh mẽ KTTN trở thành động lực phát triển của nền kinh tế nước ta.
________________
(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.83.
(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
(3), (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr 107-108, 108.
(4) Tính theo số liệu trên Website: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam,
(5) V.I.Lênin: Toàn tập, t.27, Nxb Chính trị, Mátxcơva, 1978, tr.402 (Tiếng Nga).