MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 11-NQ/TW NGÀY 3/6/2017
HỘI NGHỊ LẦN THỨ NĂM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA XII)
VỀ "HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA"
Ngày 03/6/2017, Hội nghị lần thứ
năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XII) đã ban
hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Cấu trúc của Nghị quyết gồm 4 phần: Tình hình và nguyên nhân; quan điểm
chỉ đạo và mục tiêu; nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu; tổ chức thực hiện.
Để phục vụ công tác nghiên cứu,
quán triệt, tuyên truyền đưa Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) vào cuộc
sống, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Kinh tế
Trung ương biên soạn, phát hành tài liệu: Một số điểm mới của Nghị
quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Khóa XII về “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”.
Cụ thể, một số điểm mới như sau:
1. Về quan điểm chỉ đạo: Nghị
quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) và Nghị quyết số 21-NQ/TW (khóa X) đều đưa
ra 5 quan điểm chỉ đạo hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, có thể nói Nghị quyết TW5 khóa XII đã thể
hiện một tầm nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn và nội hàm, quy luật, bước
đi, lộ trình của quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường XHCN; quan điểm chỉ đạo cũng mạnh mẽ hơn, nhấn mạnh hơn yêu cầu
hoàn thiện thể chế đối với đổi mới và phát triển kinh tế đất nước; xác
định rõ hơn định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và xác định rõ trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị.
5 quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết
số 11-NQ/TW (khóa XII), đó là: 1) Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là
khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững;
đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội
nhập quốc tế; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. 2) Nhận thức đầy
đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế
thị trường, thông lệ quốc tế, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ
nghĩa phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước trong từng giai
đoạn. Bảo đảm tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh
tế. Gắn kết hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc
phòng, an ninh. 3) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa là quá trình phát triển liên tục; kế thừa có chọn lọc
thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm
tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta; chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia,
an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. 4) Hoàn thiện thể chế kinh
tế đi đôi với hoàn thiện thể chế chính trị mà trọng tâm là đổi mới, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy và cán bộ. Có bước
đi phù hợp, vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm để tiếp tục
hoàn thiện. Xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và
mối quan hệ của Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị
trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường và giữ vững vai
trò lãnh đạo của Đảng. 5) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài
của cả hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh
đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức
mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội trong quá trình hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Về mục tiêu
a. Mục tiêu tổng quát: Kế
thừa những quan điểm quan trọng của các Nghị quyết Đảng trước đó về
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị
quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) xác định: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo tiền đề vững chắc cho
việc xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần huy động và phân bổ, sử
dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát
triển nhanh và bền vững vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh". Hai nội dung được nhấn mạnh trong mục tiêu đó là
vận hành thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và vấn đề huy
động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực.
b. Về mục tiêu cụ thể: Trong
bối cảnh ra đời Nghị quyết 21-NQ/TW (khóa X), mục tiêu xây dựng hệ
thống pháp luật bảo đảm cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN lúc
đó đặt ra rất cấp thiết. Với Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) các yêu
cầu về sự đồng bộ hơn trong hệ thống thể chế, đáp ứng các chuẩn mực phổ
biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, mối quan
hệ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị
trường …là những nội dung quan trọng được nhấn mạnh. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 được Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) xác định, đólà: “Phấn
đấu hoàn thiện một bước đồng bộ hơn hệ thống thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa theo các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế
thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Cơ bản bảo đảm tính đồng bộ
giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường;
sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển
con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội,
bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững. Chủ động, tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Mục tiêu đến năm 2030, đó là:“Hoàn thiện đồng bộ và vận hành có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”.
3. Về nhiệm vụ, giải pháp
a. Về thống nhất nhận thức: Nhất quán tinh thần Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) xác định: “Nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng là
nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị
trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và
hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII)
đã khái quát làm rõ hơn một bước nội hàm hiện đại và hội nhập quốc tế,
định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nước ta, đó là: “Tính
hiện đại và hội nhập quốc tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở chỗ kế thừa có chọn lọc những thành
tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ
thực tiễn hơn 30 năm đổi mới; có hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách
và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành
thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới; vai
trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù
hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến. Định hướng xã
hội chủ nghĩa của nền kinh tế được nhất quán xác lập và tăng cường
thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người
làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò
làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bước và từng chính sách phát triển”.
Kế thừa quan điểm Đại hội XII của
Đảng về vai trò của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) tiếp tục
xác định:“kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh
tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng
cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ”.
Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII)
đã xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng và mối quan hệ giữa Nhà
nước và thị trường; nguyên tắc huy động và phân bổ các nguồn lực xã hội,
theo đó: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh
tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng
các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và
điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ tài
nguyên, môi trường; phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội. Thị trường
đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn
lực, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà
nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ
chế thị trường”.
b. Về nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Nghị
quyết số 21-NQ/TW (khóa X) đề xuất 5 nhóm chủ trương, giải pháp với 27
giải pháp cụ thể. Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) đề xuất 6 nhóm nhiệm
vụ, giải pháp lớn với 44 giải pháp cụ thể; 5 nhiệm vụ cần tập trung chỉ
đạo thực hiện:
- 6 nhóm giải pháp của Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII), đó là: 1)
Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta. 2) Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển
các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. 3) Hoàn thiện thể
chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường. 4)
Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển
bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. 5) Hoàn thiện thể chế đẩy mạnh,
nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. 6) Nâng cao năng lực lãnh
đạo của Đảng, vai trò xây dựng và thực hiện thể chế kinh tế của Nhà
nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Trong 44 giải pháp cụ thể, có một số giải pháp mới, nổi bật, như:
+ Có giải pháp về hoàn thiện thể
chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ
và công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó
với biến đổi khí hậu; có giải pháp về hoàn thiện thể chế đẩy mạnh, nâng
cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế (những giải pháp này không có
trong Nghị quyết số 21-NQ/TW).
+ Về hoàn thiện thể chế sở hữu,
Nghị quyết số 11-NQ/TW đã chỉ đạo tập trung hoàn thiện pháp luật về đổi
mới quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng đất đai, tài
nguyên thiên nhiên và các loại tài sản công, nhất là tài sản và vốn đầu
tư của nhà nước tại doanh nghiệp. Tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng
hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;
hỗ trợ tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở
nông thôn và nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn, công nghệ cao, gắn với
bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nông dân, giữ vững ổn định
chính trị - xã hội ở nông thôn.
+ Về hoàn thiện thể chế phát triển
các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, bên cạnh tiếp tục
nhấn mạnh hoàn thiện các thể chế thúc đẩy khởi nghiệp, bảo đảm quyền tự
do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, Nghị quyết số 11-NQ/TW còn yêu cầu
xây dựng thể chế tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh
nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng
cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.
+ Về thể chế phát triển đồng bộ
các yếu tố thị trường và các loại thị trường, ngoài việc tiếp tục hoàn
thiện thể chế phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ, Nghị quyết số
11-NQ/TW đề xuất các giải pháp cụ thể phát triển và hoàn thiện thị
trường các yếu tố sản xuất, chú trọng hoàn thiện pháp luật hỗ trợ và
thúc đẩy cơ cấu lại thị trường tài chính. Hoàn thiện pháp luật về thuế
tài sản, nhất là về đất đai, bất động sản. Bảo đảm minh bạch thông tin
về thị trường quyền sử dụng đất. Xác định giá trị quyền sử dụng đất
theo cơ chế thị trường thông qua đấu giá, đấu thầu các dự án có sử dụng
đất, thoả thuận mua bán trên thị trường; áp dụng phổ biến việc xác định
giá trị quyền sử dụng đất thông qua các tổ chức thẩm định giá độc lập,
chuyên nghiệp. Rà soát, điều chỉnh khung giá quyền sử dụng đất phù hợp
với thị trường ở từng địa phương. Tăng cường áp dụng phương thức cho
thuê đất.
+ Về nâng cao năng lực lãnh đạo,
đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 11-NQ/TW
đã nhấn mạnh phải “Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng
về kinh tế - xã hội. Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương
phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. Tăng cường lãnh đạo việc thể chế
hoá và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao
chất lượng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và xây dựng, ban hành
nghị quyết của Đảng về kinh tế - xã hội. Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ
máy và phương thức hoạt động của Đảng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát
triển kinh tế - xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống
chính trị. Đổi mới phương thức đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng,
bố trí cán bộ và lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện của đội ngũ cán bộ
hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Kiên quyết, kiên trì đấu
tranh đẩy lùi tham nhũng, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" của đội ngũ cán
bộ, công chức, nhất là người đứng đầu. Tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát, sơ kết, tổng kết; kịp thời phát hiện và giải quyết đúng đắn
những vấn đề lớn, quan trọng, phức tạp về kinh tế - xã hội của đất
nước”.
+ Về nâng cao năng lực, vai trò xây dựng và thực hiện thể chế của Nhà nước, Nghị quyết số 11-NQ/TW đã chỉ rõ: “Đổi
mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế; thực hiện đúng đắn và đầy
đủ chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Điều hành nền
kinh tế không chỉ bảo đảm mục tiêu ngắn hạn mà còn hướng tới thực hiện
các mục tiêu trung và dài hạn. Nâng cao năng lực phân tích, dự báo, nhất
là dự báo chiến lược. Đổi mới căn bản và toàn diện công tác xây dựng và
thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư
công và tài chính công thực sự theo cơ chế thị trường, khắc phục tình
trạng "xin - cho", chủ quan, duy ý chí. Đổi mới công tác thống kê phù
hợp với chuẩn mực quốc tế. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám
sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và thực thi pháp luật..”
+ Về phát huy vai trò làm chủ của
nhân dân, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, Nghị quyết số 11-NQ/TW đã chỉ rõ: “Thể
chế hoá các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân,
quyền và nghĩa vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị
- xã hội, xã hội - nghề nghiệp. Bảo đảm mọi người đều được bình đẳng
trong tiếp cận các cơ hội và điều kiện phát triển, được tham gia và
hưởng lợi từ quá trình phát triển”.
- So với Nghị quyết số 21-NQ/TW
(khóa X), xuất phát từ quan điểm coi xây dựng và hoàn thiện thế chế là
một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng tạo động lực để phát
triển kinh tế nhanh và bền vững, Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) đã
đề xuất 5 nhiệm vụ quan trọng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Đây có thể coi là những giải pháp
đột phá của Nghị quyết TW5 khóa XII hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Đó là: 1) Hoàn thiện thể chế về
huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và thể chế về
phân phối kết quả làm ra để giải phóng sức sản xuất, tạo động lực và
nguồn lực cho tăng trưởng, phát triển, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã
hội, quốc phòng, an ninh. 2) Hoàn thiện thể chế về cải thiện môi trường
đầu tư, kinh doanh; có chính sách đột phá tháo gỡ những vướng mắc, tạo
thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trên cơ sở đẩy mạnh đồng bộ cải
cách hành chính và cải cách tư pháp. Xây dựng thể chế làm căn cứ xử lý
dứt điểm, hiệu quả các tồn tại, yếu kém đã tích tụ trong nền kinh tế
nhiều năm qua, đặc biệt là việc xử lý các tập đoàn kinh tế, tổng công ty
nhà nước, các dự án, công trình đầu tư công không hiệu quả, thua lỗ kéo
dài; cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém gắn với xử lý nợ xấu. 3)
Hoàn thiện thể chế về phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ, giáo
dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng
cao, tranh thủ những cơ hội và thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ 4, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động,
chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. 4) Nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nền kinh tế và năng lực kiến tạo sự phát triển của Nhà
nước, đặc biệt là năng lực, hiệu quả thể chế hoá đường lối, chủ trương
của Đảng và tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước. 5) Đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền
lực, tinh giản bộ máy, biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực,
phẩm chất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động của toàn hệ thống chính trị.
BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG - BAN KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
No comments:
Post a Comment