http://tuyengiao.vn/tuyen-truyen/mot-so-diem-moi-cua-nghi-quyet-so-12-nqtw-ve-tiep-tuc-doi-moi-co-cau-lai-va-nang-cao-hieu-qua-doanh-nghiep-103566
MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 12-NQ/TW NGÀY 3/6/2017
HỘI NGHỊ LẦN THỨ NĂM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA XII)
VỀ “TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, CƠ CẤU LẠI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC”
Ngày 03/6/2017, Hội nghị lần thứ
năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XII) đã ban
hành Nghị quyết số 12-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”.
Cấu trúc của Nghị quyết gồm 4 phần: Tình hình và nguyên nhân; quan điểm
chỉ đạo và mục tiêu; nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu; tổ chức thực hiện.
Để phục vụ công tác nghiên cứu,
quán triệt, tuyên truyền đưa Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) vào cuộc
sống, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Kinh tế
Trung ương biên soạn, phát hành tài liệu: Một số điểm mới của Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”.
Cụ thể, một số điểm mới như sau:
1. Về khái niệm doanh nghiệp Nhà nước
Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đã xác định nội hàm rõ doanh nghiệp nhà nước để thống nhất cách hiểu “Doanh
nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối, tổ chức và hoạt động dưới hình thức
công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn”. Vậy phạm vi bao
quát không chỉ ở một số ít doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ mà còn bao gồm một số lượng rất lớn doanh nghiệp do nhà nước nắm
giữ cổ phần, vốn góp chi phối, phù hợp với thực tiễn trong nước và
thông lệ quốc tế. Khái niệm này kế thừa Nghị quyết Trung ương 3 (khóa
IX), nhưng có bổ sung hơn so với Luật Doanh nghiệp 2014 (Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ).
Hiện nay, vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp có cổ phần, vốn
góp chi phối của Nhà nước rất lớn và Nhà nước có vai trò quan trọng
trong định hướng phát triển các doanh nghiệp này, vì vậy rất cần sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước đối với các doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp
chi phối của Nhà nước.
2. Về vị trí và vai trò của doanh nghiệp nhà nước
- Trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: “doanh
nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và
tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa”; “doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí
then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà
nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ
yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế
quốc tế”.
- Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa
XII) nêu bật hơn vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước theo tinh thần cụ thể
hóa quan điểm của Đại hội XII: Doanh nghiệp nhà nước giữ vị
trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế
nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ,
công bằng xã hội; doanh nghiệp nhà nước thực hiện vai trò dẫn dắt phát
triển các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, bảo đảm doanh
nghiệp Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển
kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
3. Về phạm vi ngành, lĩnh vực hoạt động
Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII)
đề ra chủ trương tiếp tục thu hẹp phạm vi ngành, lĩnh vực hoạt động
của doanh nghiệp nhà nước, cụ thể là: Doanh nghiệp nhà nước tập
trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng
và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác không đầu tư.
Trong khi đó, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: “Kiên
quyết điều chỉnh cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý, tập
trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm
thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu; không nhất
thiết phải giữ tỉ trọng lớn trong tất cả các ngành, lĩnh vực, sản phẩm
của nền kinh tế”.
Như vậy, phạm vi ngành, lĩnh vực
hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đã được xác định rõ hơn so với Nghị
quyết Trung ương 3 (khóa IX) và phù hợp hơn với vai trò của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
4. Về cơ chế hoạt động, tiêu chí đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
- Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) xác định quan điểm: Doanh
nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế
làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh
bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy
định của pháp luật. Bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải
trình của doanh nghiệp nhà nước. Tách bạch nhiệm vụ của doanh nghiệp nhà
nước sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thông thường và nhiệm vụ
của doanh nghiệp nhà nước sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ công ích.
Quan điểm này cụ thể hóa chủ trương của Đảng trong Đại hội XII “Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng cạnh tranh theo pháp luật”; “Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích”.
- Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa
XII) đề xuất giải pháp đổi mới cơ chế, chính sách để doanh nghiệp nhà
nước thật sự vận hành theo cơ chế thị trường:
+ Doanh nghiệp nhà nước tham
gia thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội do Nhà nước giao thực
hiện theo cơ chế Nhà nước đặt hàng, lựa chọn cạnh tranh, công
khai và xác định rõ giá thành, chi phí thực hiện, trách nhiệm
và quyền lợi của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước để bảo đảm
không làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.
+ Quan hệ kinh tế, tài chính
giữa Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, nhất là các quyền và
nghĩa vụ phải được thực hiện đầy đủ, minh bạch theo quy định
của pháp luật, phù hợp với cơ chế thị trường.
+ Xoá bỏ các cơ chế can thiệp hành
chính trực tiếp, bao cấp dành cho doanh nghiệp nhà nước, đối xử bất
bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nhất
là trong tiếp cận các nguồn lực nhà nước, tín dụng, đất đai, tài
nguyên, cơ hội đầu tư, kinh doanh, tài chính, thuế,...
+ Phát huy vai trò mở đường, dẫn
dắt của doanh nghiệp nhà nước trong việc hình thành và mở rộng các chuỗi
sản xuất, cung ứng và chuỗi giá trị trong nước, khu vực và thế giới.
Hạn chế tình trạng sản xuất kinh doanh khép kín, cục bộ, không minh bạch
trong doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là trong các tập đoàn kinh tế,
tổng công ty nhà nước.
Nhìn chung, đổi mới cơ chế, chính
sách hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết này là hướng
tới bảo đảm đối xử bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác, bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của doanh nghiệp nhà nước, quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp
nhà nước “sòng phẳng” và rõ ràng hơn theo cơ chế thị trường nhằm bảo đảm
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: Doanh
nghiệp tự chủ quyết định kinh doanh theo quan hệ cung cầu trên thị
trường phù hợp với mục tiêu thành lập và điều lệ hoạt động. Xóa bỏ bao
cấp đối với doanh nghiệp. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với các ngành,
vùng, các sản phẩm và dịch vụ cần ưu tiên hoặc khuyến khích phát triển,
không phân biệt thành phần kinh tế. Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của
doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính
trị, xã hội; trong đó, lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những
tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy
kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh
giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý
để doanh nghiệp nhà nước kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác
và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác theo pháp luật. Bảo hộ cần thiết, có điều kiện đối với những ngành,
lĩnh vực, sản phẩm quan trọng. Thực hiện độc quyền nhà nước trong lĩnh
vực cần thiết, nhưng không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh
nghiệp. Xóa bao cấp, đồng thời có chính sách đầu tư đúng đắn và hỗ trợ
phù hợp đối với những ngành, lĩnh vực, sản phẩm cần ưu tiên phát triển.
5. Về định hướng cơ cấu lại
- Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) xác định quan điểm: Cơ
cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế thị trường là quá
trình thường xuyên, liên tục với phương thức thực hiện và lộ trình hợp
lý. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo hướng kiên
quyết cổ phần hoá, bán vốn tại những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần
nắm hoặc không cần giữ cổ phần, vốn góp chi phối, kể cả những doanh
nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả; đồng thời xử lý triệt để, bao gồm cả
việc cho phá sản các doanh nghiệp nhà nước yếu kém.
Quan điểm này thể hiện việc cơ cấu
lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một quá trình thường xuyên, liên
tục không chỉ nhằm xử lý những hạn chế, yếu kém hiện nay mà còn để doanh
nghiệp nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện
được vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước đã nêu và tiếp tục thu
hẹp số lượng doanh nghiệp nhà nước để tập trung vào 3 ngành, lĩnh vực đã
được Đại hội XII của Đảng xác định. Quan điểm này cho thấy sự quyết tâm
cao của Đảng trong việc đổi mới, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, nhất
là cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.
Trong khi đó, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: “Chuyển
doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo chế độ công ty; đẩy mạnh cổ
phần hóa những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn,
xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao
hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”.
- Về cổ phần hóa doanh nghiệp,
thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa
XII) có một số điểm mới để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực
tiễn mà Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) chưa đề cập tới:
+ Giảm tỉ lệ sở hữu nhà nước xuống
mức đủ để thay đổi quản trị một cách thực chất và thu hút nhà đầu tư có
năng lực thực sự; tối đa hoá giá trị bán vốn nhà nước theo cơ chế thị
trường.
+ Rà soát, đánh giá toàn
diện thực trạng và phân loại các doanh nghiệp nhà nước, dự
án, công trình đầu tư và vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp để
có giải pháp cơ cấu lại, xử lý phù hợp. Kiên quyết xử lý dứt
điểm các doanh nghiệp nhà nước, các dự án đầu tư thua lỗ, kém hiệu quả.
Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi
phối hoặc không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp thì thực hiện cổ
phần hoá, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản. Đối với những doanh
nghiệp mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn hoặc cần nắm giữ cổ phần, vốn
góp chi phối thì cơ cấu lại bằng cơ chế, chính sách phù hợp. Đối với
những dự án đầu tư thua lỗ, thực hiện cơ cấu lại và chuyển nhượng
dự án cho nhà đầu tư thuộc thành phần kinh tế khác. Làm rõ trách
nhiệm và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật những vi phạm
của các tổ chức, cá nhân liên quan để xảy ra tình trạng doanh
nghiệp nhà nước, dự án đầu tư thua lỗ, thất thoát, lãng phí lớn.
+ Khuyến khích, thu hút các nhà
đầu tư chiến lược tham gia mua cổ phần, góp vốn vào doanh nghiệp khi cổ
phần hoá, thoái vốn nhà nước. Hoàn thiện tiêu chí cổ đông lớn, cổ đông
chiến lược có đủ năng lực tài chính, công nghệ và quản trị để cơ cấu lại
và phát triển doanh nghiệp.
+ Đẩy mạnh thoái vốn đầu tư ngoài
ngành, lĩnh vực kinh doanh chính, kiên quyết khắc phục tình trạng đầu
tư phân tán, dàn trải. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở
nhiệm vụ được giao, ngành, nghề kinh doanh chính, khai thác tối đa tiềm
năng, thế mạnh; triệt để tiết kiệm chi phí; nâng cao chất lượng hàng
hoá, dịch vụ, uy tín và thương hiệu trên thị trường.
+ Sử dụng có hiệu quả chính sách
thuế, phí gắn với nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch đất đai một cách
ổn định. Tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm nhà đầu tư thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước trong việc chuyển đổi mục
đích sử dụng đất sau cổ phần hoá.
+ Tiền thu từ cổ phần hóa, thoái
vốn nhà nước được quản lý tập trung và chỉ sử dụng cho các mục đích chi
đầu tư phát triển; không sử dụng cho chi thường xuyên của ngân sách nhà
nước.
+ Đối với các doanh nghiệp nhà
nước đang được giao quản lý, khai thác các công trình, dự án kết cấu hạ
tầng do Nhà nước đầu tư có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh, khi cổ phần hoá, Nhà nước tiến hành kiểm soát theo
nguyên tắc: Nhà nước thống nhất sở hữu các công trình hạ tầng quan
trọng; doanh nghiệp cổ phần hoá, nhà đầu tư nhận quyền khai thác chỉ
được quyền quản lý, vận hành, khai thác các công trình, dự án kết cấu hạ
tầng; việc lựa chọn nhà đầu tư, doanh nghiệp phải thực hiện theo Luật
Đấu thầu, công khai, minh bạch; bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ
chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ.
+ Tăng cường đầu tư, nâng cao
năng lực của doanh nghiệp nhà nước về đổi mới sáng tạo, nghiên cứu, ứng
dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại, sử
dụng tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường, coi đây là yếu tố
quyết định nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh
của doanh nghiệp nhà nước.
6. Về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp và bán cổ phần
Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII)
đề ra một số giải pháp nhằm xác định giá trị hợp lý giá
trị doanh nghiệp, vốn và tài sản nhà nước, đồng thời hạn chế
tình trạng thất thoát trong cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước
tại doanh nghiệp:
- Bảo đảm công khai, minh bạch
trong cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, nhất là trong cổ phần hoá và
thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Áp dụng các phương pháp định giá
tài sản tiên tiến phù hợp với cơ chế thị trường; bảo đảm vốn, tài sản
của Nhà nước và giá trị doanh nghiệp được định giá đầy đủ, hợp lý, công
khai, minh bạch. Hoàn thiện thể chế về định giá đất đai, tài sản hữu
hình và tài sản vô hình (tài sản trí tuệ, thương hiệu,…) trong cổ phần
hoá theo cơ chế thị trường. Quy định rõ trách nhiệm của tổ chức
tư vấn định giá độc lập trong định giá tài sản, vốn và xác định giá
trị doanh nghiệp. Xác định rõ trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước trong
việc kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp, định giá tài sản, vốn nhà
nước.
Đây là điểm mới so với Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) đã nêu “Sửa
đổi phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo hướng gắn với thị
trường; nghiên cứu đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh
nghiệp, thí điểm đấu thầu bán cổ phiếu và bán cổ phiếu qua các định chế
tài chính trung gian”.
- Trên cơ sở giá trị vốn, tài sản
của Nhà nước và giá trị doanh nghiệp đã được xác định đầy đủ, hợp lý và
theo quy định của pháp luật, khẩn trương bán cổ phần, thoái vốn
một cách công khai, minh bạch, chủ yếu thông qua bán đấu giá cạnh tranh
trên thị trường. Cổ phần hoá phải gắn với niêm yết cổ phiếu trên thị
trường chứng khoán. Các doanh nghiệp cổ phần hoá phải niêm yết trong
thời hạn một năm kể từ ngày phát hành cổ phiếu lần đầu. Các doanh nghiệp
cổ phần hoá chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện niêm yết cổ phiếu theo
quy định của pháp luật thì phải lập và triển khai kế hoạch niêm yết cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán trong thời hạn xác định theo quy định.
- Nghiêm cấm và xử lý nghiêm minh
các trường hợp định giá thấp tài sản, vốn của Nhà nước và giá trị doanh
nghiệp không đúng quy định của pháp luật để trục lợi, gây thất thoát tài
sản, vốn nhà nước.
7. Về đổi mới, nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị và nâng cao năng lực, phẩm
chất của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước
Quản trị và công tác cán bộ
là một trong những khâu yếu nhất của doanh nghiệp nhà nước. Tuy
nhiên, trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) cũng không nêu định
hướng cụ thể về đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy,
để khắc phục những hạn chế, yếu kém về quản trị và cán bộ
lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước, đồng thời cụ thể
hoá chủ trương tại Đại hội XII của Đảng “Kiện toàn đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và nâng cao năng lực quản trị
doanh nghiệp nhà nước phù hợp với chuẩn mực quốc tế“, Nghị
quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) lần này, đã xác định mục tiêu đến năm
2030 doanh nghiệp nhà nước đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế
về quản trị doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp cụ thể như
sau:
- Xây dựng và áp dụng khung quản
trị doanh nghiệp phù hợp với chuẩn mực quốc tế tại các doanh nghiệp nhà
nước, nhất là đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; đi đôi với
đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành và phẩm chất
đạo đức của cán bộ, tạo lập môi trường quản trị doanh nghiệp lành
mạnh, hiệu quả.
- Kiên quyết đấu tranh và thiết
lập các hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ có hiệu quả
trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích; tình trạng cán bộ lãnh
đạo, quản lý của doanh nghiệp nhà nước móc ngoặc với cán bộ, công chức
nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân để hình thành "nhóm lợi ích",
"sân sau", lạm dụng chức vụ, quyền hạn thao túng hoạt động của
doanh nghiệp nhà nước, trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, gây tổn
hại cho Nhà nước và doanh nghiệp.
- Xác định rõ nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của các chức danh quản lý trong hệ thống quản
trị của doanh nghiệp nhà nước; bảo đảm trách nhiệm đi đôi với quyền
hạn.
Ban kiểm soát, kiểm soát viên phải
thực sự là công cụ giám sát hữu hiệu của chủ sở hữu, hoạt động độc
lập và không chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo hoặc chi phối về lợi ích của hội
đồng thành viên, hội đồng quản trị và ban điều hành doanh nghiệp. Tổng
giám đốc và các thành viên ban điều hành doanh nghiệp nhà nước do hội
đồng thành viên, hội đồng quản trị bổ nhiệm, thuê và thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và hợp đồng lao động.
- Hoàn thiện các hệ thống khuyến
khích, đòn bẩy kinh tế đi đôi với nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ
cương trong doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện chế độ tiền lương, tiền
thưởng, thù lao của người lao động và người quản lý doanh nghiệp nhà
nước phù hợp với cơ chế thị trường, có tính cạnh tranh cao trên cơ
sở kết quả sản xuất, kinh doanh. Áp dụng hệ thống đánh giá hiệu
quả lao động đối với từng vị trí việc làm để xác định mức độ
hoàn thành, năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc, làm cơ sở
trả lương, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí và đề bạt
cán bộ.
- Thực hiện việc tách người quản
lý doanh nghiệp nhà nước khỏi chế độ viên chức, công chức. Triển khai
rộng rãi cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm qua thi tuyển cạnh tranh,
công khai, minh bạch đối với tất cả các chức danh quản lý, điều hành
và các vị trí công việc khác trong doanh nghiệp.
- Sắp xếp, tinh gọn và nâng cao
hiệu quả tổ chức bộ máy, biên chế của doanh nghiệp nhà nước; cơ cấu lại,
bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ; tăng cường bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo và tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống của cán bộ doanh nghiệp nhà nước; có cơ chế, chính
sách thu hút và sử dụng có hiệu quả lao động trình độ cao. Xây dựng
chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp
nhà nước. Rà soát, nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện về phẩm chất đạo
đức, năng lực lãnh đạo, quản lý và chuyên môn nghiệp vụ đối với
người quản lý doanh nghiệp nhà nước.
- Bảo đảm tính minh bạch, công
khai của doanh nghiệp nhà nước và trách nhiệm giải trình của người
quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là về tài chính, đầu tư, mua
sắm, sử dụng vốn của Nhà nước, chi phí, kết quả kinh doanh,
phân phối lợi nhuận, công tác cán bộ, các giao dịch lớn, giao
dịch với người có liên quan đến người quản lý, tài sản và thu
nhập của người quản lý theo các chuẩn mực quốc tế và quy
định của pháp luật. Hoàn thiện chế độ kế toán, kiểm toán và
hệ thống báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Giải pháp này đã cụ thể hoá chủ trương của Đảng trong Đại hội XII “bảo đảm công khai, minh bạch về đầu tư, tài chính và các hoạt động của doanh nghiệp”.
8. Về quản lý nhà nước và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước
- Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) có quan điểm: Nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với
hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; không để xảy ra thất thoát, lãng
phí vốn, tài sản nhà nước. Tách bạch, phân định rõ chức năng chủ sở hữu
tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản lý nhà nước đối với mọi
loại hình doanh nghiệp, chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp
nhà nước. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực
quản trị, phẩm chất đạo đức để kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý doanh nghiệp nhà nước.
Quan điểm này mới so với Nghị
quyết Trung ương 3 (khóa IX) và xuất phát từ thực tế yếu kém, hạn chế
của công tác quản lý, thanh tra, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với
doanh nghiệp nhà nước và phẩm chất, trình độ, năng lực quản lý của cán
bộ lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, Nghị quyết số
12-NQ/TW (khóa XII) đã chú trọng đến việc tách bạch 3 chức năng quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp, chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của
Nhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước theo
đúng tinh thần Đại hội XII của Đảng. Trong khi, Nghị quyết Trung ương 3
(khóa IX) mới chỉ đề cập phân biệt chức năng của cơ quan đại diện chủ
sở hữu của nhà nước với chức năng điều hành sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp.
Đại hội XII của Đảng có chủ trương: “Tách
chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà
nước, chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; sớm xóa
bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, ủy ban nhân dân
đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp. Thành lập một cơ
quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà
nước”.
- Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa
XII) đã xác định rõ lộ trình thành lập một cơ quan chuyên trách làm
đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và cổ phần, vốn
góp của Nhà nước tại doanh nghiệp chậm nhất đến năm 2018.
- Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa
XII) đã đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước như sau:
+ Rà soát, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về doanh nghiệp nhà nước.
+ Nâng cao năng lực, hiệu lực,
hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của cơ quan
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; phòng ngừa, phát
hiện và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật, tiêu cực,
tham nhũng, lãng phí trong doanh nghiệp nhà nước. Quy định rõ
trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán về kết quả
thanh tra, kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước. Hoàn thiện hệ thống
giám sát, tiêu chí đánh giá mức độ an toàn, hiệu quả hoạt động, xếp
loại doanh nghiệp nhà nước và người đại diện chủ sở hữu cổ phần,
vốn góp của Nhà nước. Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở
dữ liệu quốc gia thống nhất, đồng bộ về doanh nghiệp nhà nước
và vốn, tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp.
+ Tăng cường công tác chỉ đạo,
kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kế hoạch, phương án cổ phần hoá,
thoái vốn nhà nước đã được phê duyệt. Đề cao trách nhiệm của các
bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân đại diện chủ sở hữu nhà nước,
nhất là người đứng đầu trong việc thực hiện chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch, phương án cơ cấu lại, đổi
mới doanh nghiệp nhà nước.
+ Nhà nước thực hiện đầy đủ
trách nhiệm của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước, cổ
phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; thực sự đóng vai trò
là nhà đầu tư, chủ sở hữu, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ,
trách nhiệm với các nhà đầu tư khác trong doanh nghiệp. Bảo
đảm quyền tự chủ trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
theo nguyên tắc thị trường. Tôn trọng tính độc lập trong việc thực
hiện quyền và trách nhiệm của hội đồng thành viên, hội đồng quản
trị, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng quản trị, tổng
giám đốc, ban điều hành doanh nghiệp nhà nước để hoạt động và quản
trị của doanh nghiệp nhà nước được thực hiện một cách minh
bạch, giải trình, chuyên nghiệp, hiệu quả cao.
+ Khẩn trương thành lập một cơ
quan chuyên trách của Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh
nghiệp nhà nước theo hướng: (1) Thực hiện quyền, trách nhiệm của đại
diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, cổ phần, vốn góp
của Nhà nước tại doanh nghiệp; (2) Phê duyệt và giám sát việc thực hiện
các chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp
với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành;
(3) Phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện đúng quy định của
pháp luật về công tác tổ chức - cán bộ tại doanh nghiệp.
Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII)
đưa ra các giải pháp định hướng tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước
và chức năng chủ sở hữu nhà nước, trong đó nêu rõ trách nhiệm của Nhà
nước. Trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Nghị quyết chú
trọng đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát. Trong việc thực hiện chức
năng chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ, trách
nhiệm của nhà đầu tư, chủ sở hữu bình đẳng với các nhà đầu tư khác theo
quy định của pháp luật nhằm bảo đảm môi trường quản trị, kinh doanh lành
mạnh và thu hút nhà đầu tư tham gia vào doanh nghiệp nhà nước.
Trong khi Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: “phân
định rõ quyền quản lý hành chính kinh tế của Nhà nước và quản lý sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ quan quản lý nhà nước căn cứ vào
quy định của pháp luật và yêu cầu quản lý mà ban hành đồng bộ hệ thống
văn bản pháp quy để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp nhà
nước. Phân định rõ quyền của các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng
chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ thống nhất quản lý
và tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà
nước”.
9. Về đổi mới mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng tại doanh nghiệp nhà nước
So với Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX), Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) lần này có một số giải pháp quan trọng là:
- Nâng cao hiệu quả và vai trò
lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng tại doanh nghiệp nhà nước trong
việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, sử dụng,
bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước, công tác chính trị, tư
tưởng, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát; đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, lãng phí; lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội
trong doanh nghiệp, phát huy dân chủ cơ sở.
- Quy định rõ trách nhiệm của cấp
uỷ, người đứng đầu tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước khi để xảy
ra thua lỗ, tổn thất trong hoạt động và vi phạm chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG - BAN KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
No comments:
Post a Comment